Người Tà Ôi cuối cùng còn sót lại
(Xuân 2010) - Không phải là người Tà Ôi cuối cùng còn sống sót. Đơn giản ông Kê Xâr (Quỳnh Hoàng), ở thôn A Diên, xã A Ngo, huyện A Lưới, TT -Huế là người già duy nhất của cộng đồng Tà Ôi ở đây biết chế tác và sử dụng thành thạo hơn mấy chục loại nhạc cụ, là người duy nhất làm được khèn bè...
Báu vật của làng
Năm nay đã hơn 91 tuổi, nhưng Kê Xâr vẫn còn mạnh khoẻ, đầu óc minh mẫn và chân tay linh hoạt đến bất ngờ. Người Tà Ôi tôi hỏi, cán bộ văn hoá huyện tôi gặp, ai cũng tự hào, xuýt xoa nâng niu Kê Xâr như báu vật. Bởi vậy ông “chảnh” lắm. Chào hỏi thì vui vẻ, nhưng muốn hỏi chi tiết cái gì thì phải “cho già ít tiền uống rượu, già mới nhớ được”.
Còn nhớ hôm đó sau khi biếu ông ít tiền uống rượu, lập tức ông hứng khởi “chào mừng” tôi bằng cách lấy chiếc tù và bằng sừng trâu đưa lên miệng thổi vọng một hơi dài làm “chấn động” cả thôn bản. “Chiếc tù và này đã giúp mình giành giải bạc trong liên hoan văn nghệ các dân tộc miền núi ở Gia Lai năm 1993 đó. Cả vùng này không ai làm được tù và hay và thổi hay bằng mình đâu”, ông khoe.
Trong nhà ông thấy treo rất nhiều tù và đã óng màu thời gian. Thích quá hỏi mua một chiếc về làm kỷ niệm, ông nói: “Nó đắt lắm không mua được mô, nhưng nếu có tiền thì mình bán cho mỗi cái 5 triệu”. Tôi há hốc mồm không tin vào tai mình. “Là vì muốn có được chiếc tù và như thế này, người ta phải giết cả một con trâu, mà trâu bữa này đắt tiền lắm, ít nhất cũng 5 triệu một con”, ông giải thích làm tôi không biết cười hay mếu (!).
Nhưng tù và chưa phải là chuyện hay nhất về ông. Hiện tại trong cộng đồng không những người Tà Ôi mà cả Pa Kô ở miền tây TT-Huế, ông là người duy nhất làm được hơn 20 loại nhạc cụ, từ chiếc tù và, đàn ta-lư, đàn tê-rê, đàn 2 dây, đàn bầu Pa Cô...cho đến khèn bè, một loại nhạc cụ rất phổ biến và khó làm. Và không chỉ biết làm, ông còn là người duy nhất sử dụng thành thạo, điêu luyện tất cả các loại nhạc cụ và bài bản của từng món mà mình làm được.
Ngoài việc làm và sử dụng thành thạo các nhạc cụ, Kê Xâr còn là người sửa chữa và thẩm âm chiêng số một ở vùng này. “Không chỉ ở A Lưới mà ngay cả bên huyện Nam Đông, thậm chí dưới xuôi, người ta đều đem chiêng lên cho mình sửa”. Ông đem một cái chiêng đang làm dở ra biểu diễn vài đường rồi tiếp tục... khoe: “Sửa chiêng này còn khó hơn cả làm khèn. Ngoài biết sửa ra còn phải biết nghe âm để mà chỉnh cho đúng và hay. Do khó không ai làm được nên mình lấy tiền rất cao”. Hỏi lấy tiền cao vậy không sợ khách hàng bỏ đi chỗ khác à? Ông cười ranh mãnh: “Cả vùng này có ai làm được như mình mô mà bỏ đi?”.
Thế vẫn chưa hết. Theo xác nhận của cán bộ văn hoá huyện và bà con xóm giềng, ông Kê Xâr còn là một kho văn hoá sống của người Tà Ôi và Pa Cô. Ở huyện này ai có gì cũng tìm đến hỏi bởi ông thuộc hàng trăm câu chuyện cổ và nhớ, nắm rõ tường tận tất cả những lệ làng, phong tục của đồng bào dân tộc từ xưa tới nay.

Những người con, người cháu của ông không còn hứng thú với nhạc cụ truyền thống.
Lấy được vợ nhờ khèn bè
“Hồi nhỏ, mới có 10, 12 tuổi mình đã biết làm khèn bè và các loại nhạc cụ khác. Hồi đó mình thích nên mình học được từ các người già trong làng”, ông Kê Xâr kể. “Dạo đó, cả vùng ni ai cũng ngưỡng mộ mình vì mình chơi nhạc cụ hay, thổi khèn bè giỏi. Dạo đó gái bản quanh đây ai cũng ngưỡng mộ mình...”. Cũng nhờ biết chơi nhiều loại nhạc cụ nên khi tham gia bộ đội đánh Mỹ, ông Kê Xâr là một “ngôi sao”, được cán bộ chiến sĩ trong đơn vị cũng như dân làng những nơi bộ đội đóng quân yêu mến.
“Mà cũng nhờ tiếng khèn bè mà mình lấy được vợ đó” - ông Kê Xâr khoe khi vợ đi làm rẫy về mỉm cười chào khách. “Mình gặp vợ mình trong lần cùng đơn vị về địa phương biểu diễn ở xã A Ngo. Lần đó mình dùng khèn bè thổi bài Kăng A Kết (một tuyệt phẩm của người Tà Ôi ca ngợi vẻ đẹp và tài đức của một người phụ nữ huyền thoại tên là Kăng A Kết), vợ mình lúc đó là chủ tịch hội phụ nữ xã mê mình ngay. Sau đó mình thổi bài Kăng A Kết cho hắn nghe thêm mấy lần nữa, rồi mình cưới hắn ngay khi chiến tranh còn ác liệt”. Tôi hỏi “có thật thế không?”. Vợ ông chỉ ửng mặt xấu hổ, cười cười xác nhận lời chồng.
Sau năm 1975, Kê Xâr xuất ngũ về làm cán bộ phụ trách văn hoá xã A Ngo. Từ đó, tất cả những phong trào, chương trình văn nghệ của bà con đồng bào dân tộc đều một tay Kê Xâr làm đạo diễn. Suốt bao nhiêu năm qua, kể cả lúc đã nghỉ hưu, ông Kê Xâr luôn có mặt trong tất cả các ngày lễ lớn, các liên hoan văn nghệ... của huyện, tỉnh và cả khu vực, đem lại không biết bao nhiêu vinh quang cho bản thân và cộng đồng bằng những giải thưởng. Mới đây nhất, đầu năm 2009, ông được Viện Âm nhạc Việt Nam tặng bằng khen vì đã có thành tích giữ gìn vốn văn hoá cổ truyền dân tộc.
Mênh mông một khoảng trống
Sau một hồi hồ hởi giới thiệu về bản thân và những thành tích hào hùng trong quá khứ, ông Kê Xâr bỗng nhiên thở dài: “Mình chỉ còn vài năm nữa là chết thôi. Ngày trước mắt còn sáng, tay còn nhanh, mỗi ngày mình làm được một vài cái khèn bè, nhưng nay thì phải mất một tuần mới làm xong một cái. Mình lo khi mình chết đi, sẽ không ai nối nghiệp làm nhạc cụ, làm chiêng... nữa. Rồi bao nhiêu điều hay ho của dân tộc mình sẽ bị thất truyền mất thôi...”.
Những điều ông Kê Xâr lo lắng không phải là không có cơ sở khi những người con, người cháu của ông, hầu hết chỉ lo kiếm sống và hưởng thụ “văn hoá mới” của người Kinh chứ chẳng mấy ai hứng thú với mấy loại nhạc cụ truyền thống như ông cả.
Hiện ở A Lưới, ngoài một vài người trẻ biên chế trong đội văn nghệ huyện biết sử dụng một vài loại nhạc cụ truyền thống, còn lại cả một di sản của tổ tiên để lại đều đã và đang oằn mình trên vai của ông Kê Xâr và một vài người già, cũng đang ở tuổi gần đất, xa trời. Mà những người già ngoài ông Kê Xâr mà tôi có dịp gặp, hầu hết họ chỉ biết sử dụng một vài loại nhạc cụ phổ biến như khèn bè, chiêng... Còn hỏi làm ra sao thì ai cũng lắc đầu bảo đi tìm ông Kê Xâr mà hỏi (!).
Mới đây, được sự tài trợ của chương trình “Hỗ trợ văn hoá nghệ thuật vì sự phát triển bền vững” của Viện Âm nhạc Việt Nam thông qua việc trả lương, ông Kê Xâr đã mở một lớp học tại gia đình để truyền lại nghề làm và sử dụng tất cả các loại nhạc cụ truyền thống của người Tà Ôi, Pa Kô cho 15 thanh niên của xã Hồng Quảng và nhiều địa phương khác trong huyện A Lưới.
Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, lớp học của ông Kê Xâr từ 15 người hiện chỉ còn đúng 2 người ở xã Hồng Quảng bởi “Thấy học khó quá nên tụi hắn tự ý bỏ học hết rồi. Toàn mấy đứa không chịu khó và chẳng có đam mê chi cả nên mình chịu thôi, mình không thể nào dạy được”, ông Kê Xâr nói, giọng rầu rĩ. Nhưng rồi ông lại vui vẻ cười khà khà ngay sau đó: “Tuy chỉ có hai đứa thôi, nhưng mình vẫn nhận lương đều đặn và đầy đủ như hồi còn 15 đứa”.
Đúng là hết biết với ông Kê Xâr (!)
Bài viết Người Tà Ôi cuối cùng còn sót lại được máy tìm kiếm Xa Lộ tự động quét trên mạng. Nếu thấy có nội dung xấu, xin bạn vui lòng gửi thư điện tử cho chúng tôi , bao gồm tên bài viết Nguoi Ta Oi cuoi cung con sot lai ở dạng tiếng Việt không dấu, hoặc Người Tà Ôi cuối cùng còn sót lại ở dạng có dấu.
